Giải pháp CAD/BIM hàng đầu Việt Nam

Share on facebook
Facebook
Share on twitter
Twitter
Share on linkedin
LinkedIn

Tốc độ phát triển đô thị tại Việt Nam hiện nay

Hiện nay, quá trình đô thị hóa phát triển mạnh mẽ ở mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình này diễn ra nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào tình hình phát triển kinh tế – xã hội ở quốc gia đó. Trong bài viết này chúng ta cùng tìm hiểu tốc độ phát triển đô thị tại Việt Nam và trên thế giới như thế nào?

1. Tình hình đô thị hóa trên thế giới

Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực (theo wikipedia). Tuy nhiên, vấn đề là các quốc gia áp dụng các định nghĩa rất khác nhau về đô thị hóa. Không chỉ ngưỡng thành thị so với nông thôn khác nhau mà các loại chỉ số được sử dụng cũng khác nhau. Một số quốc gia sử dụng ngưỡng dân số tối thiểu, một số quốc gia khác sử dụng mật độ dân số, phát triển cơ sở hạ tầng, loại việc làm hoặc đơn giản là dân số của các thành phố được xác định trước.

Hơn một nửa dân số thế giới hiện sống ở các khu vực thành thị – ngày càng tăng ở các thành phố có mật độ dân số cao. Tuy nhiên, bối cảnh đô thị là một hiện tượng tương đối mới trong lịch sử loài người. Sự chuyển đổi này đã thay đổi cách chúng ta sống, làm việc, đi lại và xây dựng mạng lưới.

Tốc độ phát triển đô thị tại Việt Nam hiện nay

Ở hầu hết các quốc gia, một phần lớn dân số thành thị thực sự sống trong các thị trấn và làng mạc tương đối nhỏ. Dân số thành thị cũng có thể được coi là phi nông nghiệp hơn là thành thị, theo cách mà những người ở các nước công nghiệp phát triển thường có xu hướng nhìn nhận về nó. Trong các ước tính và dự báo về đô thị hóa gần đây nhất, Ban Dân số Liên hợp quốc nhận thấy rằng khi thảo luận về đô thị hóa, “trọng tâm thường là các thành phố lớn, các thành phố có dân số lớn hơn nhiều quốc gia”.

Liên hợp quốc dự báo dân số thành thị trên thế giới sẽ tăng 1,8% mỗi năm và 2,3% mỗi năm ở các nước đang phát triển từ năm 2007 đến năm 2025. Cả hai đều có tốc độ tăng trưởng khá cao. Trên thực tế, vào năm 2020, dân số nông thôn trên thế giới sẽ ngừng tăng hoàn toàn và bắt đầu giảm.

Một phần, dân số thành thị trên thế giới sẽ tiếp tục tăng chỉ đơn giản là vì các thị trấn và làng mạc không được coi là đô thị ngày nay sẽ phát triển theo thời gian. Điều quan trọng không kém, di cư đến các khu vực thành thị có thể sẽ tăng lên khi các nền kinh tế phát triển và khả năng kiếm được thu nhập cao hơn ở các thành phố tăng lên. Phần lớn tình trạng di cư từ nông thôn ra thành thị sẽ diễn ra do khó khăn, vì những người nghèo ở nông thôn và không có đất tìm đến các thành phố và thị trấn với hi vọng có việc làm.

2. Tốc độ phát triển đô thị tại Việt Nam

Đô thị là một khu vực có mật độ gia tăng các công trình kiến trúc do con người xây dựng so với các khu vực xung quanh nó, là một trung tâm dân cư đông đúc, có thể là thành phố, thị xã hay thị trấn. Các đô thị ở Việt Nam được chia thành 6 loại, bao gồm: Đô thị loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV, loại V.

Đô thi hóa có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian. Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên là tốc độ đô thị hóa.

Tốc độ phát triển đô thị tại Việt Nam hiện nay

Theo số liệu thống kê của Bộ xây dựng:

  • Năm 1999 cả nước có 629 đô thị.
  • Đến tháng 4/2017, cả nước có 805 đô thị, bao gồm: 2 đô thi loại đặc biệt, 17 đô thị loại I, 25 đô thị loại II, 44 đô thị loại III, 84 đô thị loại IV, 633 đô thị loại V.
  • Đến tháng 10 năm 2018, tổng số đô thị cả nước là 819 đô thị, bao gồm 2 đô thị loại đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, 19 đô thị loại I, 23 đô thị loại II, 45 đô thị loại III, 84 đô thị loại IV, 646 đô thị loại V. Tỷ lệ đô thị hóa ước đạt 38,4%.
  • Đến ngày 27 tháng 5 năm 2019, cả nước có 833 đô thị, bao gồm 2 đô thị loại đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, 20 đô thị loại I, 29 đô thị loại II, 45 đô thị loại III, 85 đô thị loại IV và 652 đô thị loại V, tỉ lệ đô thị hóa đạt 38,5%.
  • Đến tháng 6 năm 2020, tỷ lệ đô thị hóa cả nước ước đạt 39,3%.
  • Đến ngày 28 tháng 8 năm 2020, cả nước có 2 đô thị loại đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, 22 đô thị loại I, 31 đô thị loại II, 47 đô thị loại III và 85 đô thị loại IV.

Đô thị hóa làm ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đến số lượng, chất lượng dân số đô thị, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, thay đổi sự phân bố dân cư. Các đô thị không chỉ là nơi tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động mà còn là nơi tiêu thụ sản phẩm hàng hóa lớn và đa dạng, là nơi sử dụng lực lượng lao động có chất lượng cao, cơ sở kĩ thuật hạ tầng cơ sở hiện đại có sức hút đầu tư mạnh trong nước và nước ngoài.

Đô thị hóa làm sản xuất ở nông thôn bị đình trệ do lao động chuyển đến thành phố. Thành thị phải chịu áp lực thất nghiệp, quá tải cho cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường sống, an ninh xã hội không đảm bảo, các tệ nạn xã hội ví dụ như thiếu việc làm sẽ nảy sinh ra nhiều vấn đè như nghèo đói lạc hậu, mù chữ, tệ nạn như trộm cắp, ô nhiễm môi trường, phân chia giàu nghèo,…

Xem thêm: Thành phố thông minh là gì

Share on facebook
Facebook
Share on twitter
Twitter
Share on linkedin
LinkedIn

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài liên quan